Thịt hộp

Thit-hop-Fray-Bentos

Đây là bài viết khá lan man của Dave Trott…

Chiến trang thế giới lần thứ nhất, khác với lần thứ hai, diễn ra trong một khu vực rất nhỏ.

Những đường hào chỉ dài 400 mile và cả 2 bên nã vào nhau tất cả thứ gì họ có.

Nên, chỉ sau vài năm thì vùng đất giao tranh trở nên nhão nhét, đặc quánh như cháo.

Và có quá nhiều dây kẽm gai, bạn chẳng thể biết nó bắt đầu ở đâu, kết thúc nơi nào.

Nên chẳng ngạc nhiên gì khi 2 bên không thể di chuyển qua lại.

Thế rồi dân Anh nghĩ rằng mình đã phát minh 1 giải pháp cho vấn đề này: xe tăng.

Như một cái lô cốt có thể di chuyển trên đống bùn đất và dây kẽm gai.

Bạo lực và thô sơ, chỉ là một cái phòng bằng kim loại với động cơ bên trong.

Cần 1 tiểu đội 9 người để vận hành và nó di chuyển chậm như đi bộ vậy.

Một trong số những lần đầu tiên chiến thuật này được áp dụng là ở Passchendaele năm 1917.

Chỉ huy của 1 trong số những chiếc xe tăng đó là đội trưởng Donald Richardson.

Phụ trách lái là chỉ huy thứ 2, Lieutenant George Hill.

Khi đạn pháo bắn trúng sườn của xe tăng, những mảnh vỡ kim loại tóe ra như những lưỡi dao vậy.

Một trong số đó bắn trúng Hill làm anh ta sụp xuống bộ điều khiển. Xe tăng thì trượt vào hố bom và kẹt cứng ở đó.

Binh nhì Brady mở cửa để ra ngoài và cố giúp xe tăng thoát kẹt. Nhưng anh ta bị bắn chết.

Binh nhì Trew thử làm theo Brady, nhưng lại bị trúng mảnh bom từ bên trong xe tăng văng trúng.

Khi quân Đức tấn công, tiểu đội bắn trả bằng súng trường và súng lục qua những kẽ hở.

Họ chống cự cuộc tấn công của quân Đức cả ngày và đêm.

Ngày tiếp theo, binh nhì Arthurs bị trúng mảnh bom từ bên trong xe tăng.

Rồi một lính Đức ném lựu đạn lọt qua khe hở, đội trưởng Richardson bắn chết tên lính kia và binh nhì Morrey ném trả lại trước khi nó nổ.

Họ trụ được tới ngày thứ 2, nhưng cũng như quân Đức, quân Anh bắt đầu nã pháo vào trước xe tăng để tránh quân Đức thu giữ được.

Trung sĩ Missen xung phong bò ngược trở lại qua vùng giao tranh (nguyên văn: no-man’s-land) để báo cho quân Anh rằng vẫn còn những binh sĩ sống sót bên trong.

Họ không có nước, nên vào ngày thứ 2 thì họ đã uống nước từ bộ tản nhiệt động cơ.

Binh nhì Morrey và Cai quyền (nguyên văn: Lance Corporal) Binley đều bị trúng những mảnh bom từ bên trong xe tăng.

Vào ngày thứ 3, tiểu đội cũng cạn đạn dược luôn. Và chẳng có ai đến cứu họ cả, họ phải tự xoay xở để trốn về.

Nên trong bóng tối, họ bắt đầu bò qua đống bùn đất, kẽm gai và xác chết.

Thật đáng kinh ngạc khi tới 8/9 thành viên đã sống sót.

Nhưng đó không phải là phần của câu chuyện mà tôi hứng thú…

Phần tôi thích hơn cả là cách họ đặt tên cho chiếc xe tăng trước cuộc tấn công.

Sơn ở bên hông xe, bằng cỡ chữ lớn, là “Fray Bentos”.

Cho những người chưa biết, Fray Bentos là tên thương hiệu của loại thịt hộp dành cho tầng lớp lao động: thịt bò muối, bánh pate bít tết và cật.

Loại thịt rẻ tiền và để được lâu, vốn cũng là loại thức ăn chính trong quân đội, được tên theo ngôi làng có nhà máy sản xuất – Fray Bentos ở Uruguay.

Tôi yêu sự hài hước của mấy tay lính trong xe tăng.

Họ cóc đặt tên cho chiếc xe là: Chiến thắng (Victory), Tự do (Liberty, Freedom), hoặc cái thứ mà giờ chúng ta gọi là “mục tiêu của thương hiệu” (nguyên văn: brand purpose).

Họ chỉ muốn được vui vẻ, nên họ đặt tên chiếc xe theo món thịt hộp, y như thứ mà họ cảm thấy khi ngồi bên trong.

Người thường đâu có muốn mấy cái thứ khoa trương như mục tiêu thương hiệu, họ chỉ muốn cười thôi.

Họ bỏ qua thứ mục tiêu thương hiệu khoa trương, nhưng dễ dàng chấp nhận những trò đùa.

Nếu cười giúp thế giới tốt hơn, nó cũng giúp chúng ta có cách tiếp cận hiệu quả hơn.

Có lẽ cũng là lí do vì sao tiểu đội lái Fray Bentos là những người trang trí sặc sỡ nhất suốt cả cuộc chiến.

Được dịch từ bài viết “Tinned meat” của Mr. Dave Trott

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of